Phim an toàn chống vỡ kính có tác dụng, nhưng tác dụng đó là giữ mảnh vỡ dính lại khi kính vỡ, không phải làm cho kính không vỡ. Muốn cả tấm kính ở lại trong khung thì phim phải được neo vào khung. Với lan can, mặt ngoài nhà cao tầng hay vách chịu người tựa, phim không thay được tính toán của kỹ sư.
Cái tên "chống vỡ" làm nhiều người hiểu lệch ngay từ đầu. Hình ảnh quen thuộc là cây búa đập vào tấm kính dán phim, kính nứt toác mà vẫn đứng nguyên. Đoạn clip đó có thật ở khía cạnh giữ mảnh, nhưng tấm kính đã vỡ. Điều người mua cần hỏi là sau cú đập, chuyện gì xảy ra tiếp theo.
Phim an toàn chống vỡ kính thực sự làm gì?
Đó là lớp polyester (PET) dày hơn phim cách nhiệt thông thường, dán lên mặt kính bằng lớp keo mạnh. Tài liệu tổng hợp về phim an toàn và an ninh mô tả mục đích chính là giữ kính lại với nhau khi vỡ. Vì dán sau khi cửa đã lắp, nó là cách nâng cấp một ô kính có sẵn, không cần thay kính.
Lợi ích rõ nhất là giảm nguy cơ mảnh kính văng vào người. Kính ủ thường vỡ thành mảnh lớn sắc cạnh, nên đây là loại kính phim giúp nhiều nhất. Cửa kính thấp sát sàn trong nhà có trẻ nhỏ, vách ngăn phòng tắm cũ, ô kính cạnh lối đi là những chỗ hay được nghĩ tới đầu tiên.
Phim cũng có ích với kẻ gian, ở mức làm chậm lại. Tài liệu trên dùng chữ trì hoãn, không phải ngăn chặn. Một tấm kính đã vỡ nhưng vẫn dính thành mảng thì cần thêm thời gian và tiếng động để phá lối vào. Khoảng thời gian đó chỉ có giá trị khi có người nghe thấy, có chuông báo, hoặc có camera.
Còn độ cứng của kính thì gần như giữ nguyên. Theo cách chúng tôi hiểu các tài liệu, phim không làm tấm kính chịu lực tốt hơn đáng kể trước khi vỡ. Nó phát huy tác dụng sau khi kính đã vỡ.
Dày bao nhiêu thì đủ?
Độ dày phim thường ghi bằng mil, 1 mil bằng 25,4 µm. Dải phổ biến đi từ khoảng 100 µm tới hơn 525 µm, và mức thường gặp là 4 mil với 8 mil.
| Độ dày ghi trên phiếu | Quy đổi gần đúng | Vị trí trong dải |
|---|---|---|
| 4 mil | khoảng 100 µm | Mức thấp, hay gặp |
| 8 mil | khoảng 200 µm | Mức thường gặp, dày hơn |
| 21 mil | khoảng 530 µm | Mức rất dày, phía trên của dải |
Không có con số dùng chung cho mọi cửa. Độ dày chọn theo mức bảo vệ cần có và kích thước tấm kính. Tài liệu tổng hợp nói trên dẫn gợi ý của các nhà sản xuất là khoảng 100 µm cho kính tới 3 mm, và khoảng 175 µm cho kính dày trên 6 mm. Đó là gợi ý chung, không phải công thức cho ô kính của bạn.
Hai điều nữa dễ bị bỏ qua. Dày hơn không tự động an toàn hơn nếu keo yếu hoặc thi công ẩu: tài liệu ghi hiệu quả phụ thuộc độ bám của keo, độ dày polyester, chất lượng dán, cùng cấu tạo cửa và khung. Và phim càng dày thì càng khó dán trên cửa có đố, góc hẹp. Ở một ô kính khó, người thợ giỏi với phim vừa đủ có thể cho kết quả tốt hơn phim dày dán vội.
Chuyện độ dày có liên quan gì tới cản nhiệt không là câu hỏi khác. Lớp giúp phim giữ mảnh vỡ và lớp giúp phim cản nắng là hai việc riêng.
Chuẩn thử nói lên điều gì?
Bạn sẽ gặp vài cái tên trên phiếu: ANSI Z97.1, 16 CFR 1201, EN 12600, BS 6206, và GSA-TS01 cho tải áp suất đột ngột. Bài này chỉ nêu tên, vì chúng tôi chưa đọc được toàn văn để trích tiêu chí đạt.
Theo một tài liệu của ngành, ANSI Z97.1 và 16 CFR 1201 là chuẩn va đập nhằm bảo vệ người khỏi thương tích khi kính vỡ, không dùng để đánh giá khả năng chống đột nhập. Vì vậy một lời giới thiệu kiểu "đạt chuẩn an toàn nên chống trộm" đang nhập hai chuyện làm một.
Khi người bán nêu một chuẩn, hỏi thêm ba câu: chuẩn đó thử cái gì, có bản kết quả không, và kết quả ấy trên kính dày bao nhiêu. Phiếu thử gắn với một mẫu kính và phim cụ thể. Nếu mẫu khác xa cửa nhà bạn, con số ấy chỉ để tham khảo.
Neo khung: phần quan trọng hay bị bỏ qua
Đây là chỗ khác biệt lớn giữa phim dán xong là hết và một hệ giữ kính thực sự.
Phim dán lọt lòng, không chạm khung, giữ các mảnh dính với nhau. Nhưng cả mảng kính vẫn chỉ nằm trong gioăng. Tài liệu tổng hợp khuyên gắn với khung cửa, không chỉ với gioăng, để mép phim trở thành một phần của cả kính lẫn khung. Có hai cách: dùng keo xây dựng chạy dọc mép (wet-glazing), hoặc dùng thanh kim loại bắt vào khung, phủ lên phần phim.
Một phép tính nhỏ cho thấy vì sao chuyện này quan trọng. Tài liệu về kính mái đưa ra mức ước tính khoảng 2,5 kg cho mỗi m² trên mỗi mm độ dày kính. Một tấm cửa rộng 1 m, cao 2 m, dày 8 mm sẽ nặng 1 × 2 × 8 × 2,5 = 40 kg. Đây là phép tính của chúng tôi, cho một tấm giả định.
Suy ra nhận định của bài: phim không neo biến một trận mưa mảnh nhỏ thành một mảng có thể nặng chừng ấy, và câu hỏi đổi từ "mảnh có văng không" sang "mảng này có rời khung không". Ở cửa tầng trệt, mảng đó vẫn nguy hiểm cho người đứng cạnh, nhưng trong phạm vi hẹp. Ở tầng cao, phía dưới là vỉa hè, chuyện đã khác hẳn.
Kính cường lực là trường hợp đáng lưu ý. Bản thân nó đã vỡ thành hạt nhỏ, nên lợi ích giữ mảnh ít hơn so với kính thường. Một tài liệu đào tạo thợ còn lưu ý kính tôi sau khi vỡ để lại rất ít thứ cho phim bám giữ, nên neo khung càng có ý nghĩa với loại kính này. Dán phim mỏng không neo lên kính cường lực để "chắc thêm" thường là mua một cảm giác.
Chọn theo rủi ro bạn lo
Cùng một loại phim có thể đủ hoặc thiếu, tuỳ thứ bạn đang lo.
| Bạn lo điều gì | Phim không neo | Phim có neo | Vẫn cần thêm |
|---|---|---|---|
| Mảnh văng vào người | Giúp nhiều | Giúp nhiều | Kính an toàn nếu xây mới |
| Va đập, trẻ nhỏ | Giúp nhiều với kính thường | Giúp thêm | Che chắn vị trí thấp |
| Kẻ gian vào nhà | Làm chậm ít | Làm chậm hơn | Chuông, khoá, camera |
| Gió bão, mảnh bay | Hạn chế | Giúp nhiều hơn | Kỹ sư, chuẩn bị trước bão |
| Kính rơi ở tầng cao | Không đủ | Phải tính riêng | Kỹ sư kết cấu, ban quản lý |
| Lan can kính | Không dùng thay kết cấu | Không dùng thay kết cấu | Kỹ sư, kính đúng loại |
Bảng trên là đánh giá tương đối, tổng hợp từ tài liệu ngành. Chất lượng từng sản phẩm và từng ô cửa khác nhau.
Nhà cao tầng và lan can: khi nào phải hỏi kỹ sư?
Có ba trường hợp chúng tôi khuyên không tự quyết với đơn vị dán phim.
Mặt kính nhà cao tầng. Tấm rơi là chuyện an toàn công cộng. Việc dán phim, neo khung, tải gió cần người có chuyên môn xem xét, cùng ban quản lý toà nhà và quy định hiện hành.
Lan can và vách có người tựa. Đây là nhận định của chúng tôi, không phải trích từ tiêu chuẩn: chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào coi phim là bộ phận chịu lực của lan can. Lan can phải đứng vững nhờ kính đúng loại, liên kết đúng cách. Phim có thể giữ mảnh nếu tấm đó vỡ, nhưng khoảng trống vẫn có thể mở ra.
Kính lắp nghiêng hoặc trên mái. Kính loại này dễ rơi khỏi ô lắp hơn khi vỡ. Dùng phim để "nâng cấp" nó là việc của kỹ sư, không phải một báo giá dán phim.
Phim an toàn có liên quan gì tới nhiệt?
Một bản tin kỹ thuật của hãng kính quốc tế cho biết phim trong loại giữ mảnh vỡ thường hấp thụ ít năng lượng mặt trời, nên thường dán được an toàn. Nhưng bản tin cũng nhắc hơn nửa năng lượng mặt trời nằm ngoài vùng mắt nhìn thấy, nên một phim trông trong vẫn có thể hấp thụ nhiều, và vẫn phải kiểm tra với nhà cung cấp.
Loại phim gộp cả an toàn và chống nắng thì cần cẩn trọng như phim cách nhiệt. Trên kính thường, kính màu, kính hộp, câu chuyện ứng suất nhiệt được phân tích ở bài phim cách nhiệt nhà kính hướng Tây.
Khi nào không cần phim an toàn?
Nếu sắp thay cửa, chọn kính an toàn ngay từ đầu thường hợp lý hơn dán thêm một lớp lên kính cũ. Nếu kính đã là kính dán an toàn, nó vốn giữ mảnh nhờ lớp giữa, phim có thể chỉ thêm rất ít. Còn nếu thứ bạn thật sự lo là trộm, ngân sách đặt vào khoá cửa và chuông báo có thể được việc hơn.
Phim cũng có tuổi thọ, keo có thể yếu đi theo thời gian dưới nắng. Hãy hỏi về thời hạn bảo hành và khả năng thay thế, đừng xem đây là việc làm một lần cho cả đời nhà.
Bắt đầu từ đâu
Viết ra một câu: bạn đang sợ điều gì xảy ra với tấm kính nào. Sau đó xem hướng tiếp cận ở trang phim kiến trúc, đọc thêm ở trung tâm hỗ trợ, rồi gửi ảnh và kích thước qua trang liên hệ nếu muốn VEGO WINDOWFILM góp ý cho từng ô kính.



