Cách tính VLT sau khi dán rất đơn giản: nhân độ xuyên sáng của kính với độ xuyên sáng của phim. Kính 80% dán phim 70% cho khoảng 56%, không phải 70%, và cũng không phải 80 trừ đi 30. Con số thu được là ước lượng, muốn biết chính xác trên xe của bạn thì phải đo.
Nhiều chủ xe chọn phim "70" rồi yên tâm kính mình còn 70%. Lúc đo thử mới thấy máy báo thấp hơn hẳn và nghĩ tiệm dán sai phim. Thường thì tiệm không sai. Chỉ là cả hai bên đều quên mất tấm kính.
Vì sao phải nhân, không phải cộng?
VLT là phần ánh sáng nhìn thấy, khoảng từ 380 đến 780 nm, đi qua được một lớp vật liệu. Khi có hai lớp, ánh sáng đi qua lớp đầu rồi mới tới lớp sau, và lớp sau chỉ cho qua một phần của phần còn lại. Nó giống như giảm giá chồng giảm giá: giảm 20% rồi giảm tiếp 30% không phải giảm 50%.
Công thức viết ra như sau:
VLT sau khi dán ≈ VLT kính × VLT phim
Đổi phần trăm sang số thập phân trước khi nhân. Theo một tài liệu về tính VLT, kính xe thường có VLT khoảng 70–85%, nên kính nguyên bản không phải là tấm kính "100%" như nhiều người vẫn nghĩ. Đây là phép nhân của cách tính thông dụng, chứ không phải số của riêng xe nào.
Bảng minh hoạ cách tính VLT sau khi dán
Mấy con số dưới đây chỉ là phép nhân, cột dọc là kính, hàng ngang là phim. Chúng không phải gợi ý nên chọn phim nào.
| Kính nguyên bản | Phim 70% | Phim 50% | Phim 35% |
|---|---|---|---|
| 85% | 59,5% | 42,5% | 29,75% |
| 80% | 56% | 40% | 28% |
| 75% | 52,5% | 37,5% | 26,25% |
Giá trị tính toán trên số giả định, chưa tính sai số. Không phải số đo và không gắn với mốc quy định nào.
Có hai điều dễ thấy khi nhìn bảng. Kết quả luôn thấp hơn cả số của kính lẫn số của phim. Và cùng một tấm phim, kính nguyên bản càng tối thì kết quả càng tụt, nên hỏi "phim này bao nhiêu phần trăm" mà không hỏi kính xe mình bao nhiêu là mới hỏi một nửa.
Nếu đi ngược lại, tức biết mức muốn đạt và cần tìm phim, thì lấy mức đó chia cho VLT kính. Muốn còn 50% trên kính 80% thì phim cần khoảng 50 ÷ 80 = 62,5%. Cách chọn mức cho từng vị trí đã có ở bài độ xuyên sáng phim cách nhiệt, còn ở đây chỉ bàn về phép tính.
Về quy định, bài này không nêu con số. Hãy kiểm tra quy định hiện hành trước khi quyết định.
Lấy VLT của kính ở đâu?
Đây là chỗ khó nhất, vì không ai in số này lên tem xe cho bạn đọc dễ dàng.
Cách chắc chắn là đo. Nhiều tiệm có máy đo truyền sáng cầm tay. Trước khi dán, hãy nhờ đo từng vị trí kính bạn định làm, ghi lại trên điện thoại. Việc này tốn vài phút nhưng cho bạn đúng cái số cần dùng.
Nếu không đo được, tạm lấy mức thấp trong khoảng thông dụng khi tính. Làm vậy bạn sẽ không lạc quan quá. Kết quả cuối vẫn phải đo lại sau khi dán.
Các trường hợp hay tính sai
Kính lái nhiều lớp. Kính lái ô tô thường là kính dán nhiều lớp, hai tấm kính kẹp một lớp giữa. Nhiều người nghe "hai lớp" rồi định nhân thêm. Không cần. Số VLT đo được của kính lái đã là của cả tấm, bạn chỉ nhân với phim một lần. Có kính lái còn có lớp phủ hoặc màu xanh sẵn, nên nó không phải tấm kính trong như mắt tưởng, đó là lý do càng nên đo.
Kính riêng tư tối sẵn. Nhiều xe SUV, MPV có kính sau tối từ nhà máy. Đây là kính đã có sẵn màu, nên số thứ nhất trong phép nhân khá thấp. Giả sử một tấm kính đo được 25%, chỉ để tính thử: dán phim 70% còn khoảng 17,5%, dán phim 35% còn khoảng 8,75%. Với số như vậy, mắt người ngồi trong xe cảm nhận rõ, nhất là lúc lùi xe ban đêm. Nhiều trường hợp nên dùng phim rất sáng cho kính loại này, chủ yếu để xử lý nhiệt và UV thay vì làm tối thêm.
Dán 2 lớp phim. Cứ thêm một lớp thì thêm một lần nhân. Kính 80% dán hai lớp phim 70% còn khoảng 0,8 × 0,7 × 0,7 = 39,2%. Với hai lớp 50%, con số là 20%. Dán thêm lớp còn dính tới keo và rủi ro giữ nhiệt, một bài báo đã phân tích, nên chúng tôi không khuyên làm cách này.
Phim cũ chưa bóc. Dán đè lên phim cũ cũng là dán 2 lớp, dù bạn không chủ ý. Nếu không biết kính đang có phim hay không, phép tính từ số "nguyên bản" sẽ sai ngay từ đầu.
Vì sao số tính và số đo lệch nhau?
Phép nhân là ước lượng, và sự lệch đến từ vài chỗ.
Thứ nhất, nó bỏ qua phản xạ qua lại giữa các mặt kính và phim. Thứ hai là số VLT trên phiếu. Phiếu nghiêm túc thường ghi điều kiện đo: một đặc tả của hãng quốc tế đo theo ASTM E-903, trên kính trong 6 mm. Một phiếu khác tính theo NFRC cũng trên kính trong 6 mm. Nghĩa là số VLT trên phiếu đã gồm một tấm kính trong rồi.
Từ đây có một suy luận ít bài nhắc tới. Nếu số trên phiếu đã tính cả kính thử, thì khi lấy số đó nhân với VLT kính xe, ta đang tính kính hai lần. Do vậy kết quả tính có xu hướng thấp hơn một chút so với thực tế. Chúng tôi không có số đo để nói lệch bao nhiêu, và phiếu nào cũng cần đọc rõ điều kiện đo, nhưng đây là lý do bạn không nên ngạc nhiên nếu máy báo cao hơn phép tính đôi chút.
Thứ ba, tên phim không phải VLT thật. Số trong tên mã có thể là cách gọi làm tròn, còn con số dùng để tính phải lấy trên phiếu thông số. Bài thông số phim cách nhiệt nói kỹ hơn về cách đọc.
Thứ tư, máy đo và chỗ đo. Mỗi máy có sai số riêng. Mép kính, vùng chấm đen viền kính, vết bẩn hay vết keo đều làm số nhảy.
Đo thực tế thế nào cho đúng?
Muốn con số có ích, hãy đo theo cùng một cách trước và sau khi dán.
- Lau sạch kính ở vị trí đo.
- Chọn vùng giữa kính, tránh viền chấm đen và mép phim.
- Đo vài điểm, ghi lại từng số.
- Sau khi dán, đo lại đúng vị trí đó khi phim đã khô.
Phim mới dán còn hơi nước nên có thể trông mờ, số đo lúc đó chưa phản ánh trạng thái ổn định. Đợi phim khô theo hướng dẫn của tiệm rồi đo sẽ công bằng hơn. Hãy nhờ tiệm ghi số đo vào phiếu nếu bạn cần lưu lại.
Nếu số đo thấp hơn phép tính quá nhiều, đừng vội kết luận. Hỏi xem máy đo loại gì, có đo trên cùng vị trí không, có phim cũ nào còn sót không, rồi đối chiếu mã phim trên phiếu với phim đã dán.
Việc nên làm tiếp
Xin tiệm đo VLT từng vị trí kính trước khi chọn phim, rồi dùng phép nhân ở trên để lọc các phương án. Cấu hình tham khảo có ở trang giải pháp phim cách nhiệt ô tô, còn nếu cần hỏi về xe của bạn, hãy gửi yêu cầu qua trang liên hệ của VEGO.



