Trang này gom các thuật ngữ phim cách nhiệt hay gặp trên phiếu thông số, báo giá và hợp đồng, xếp theo năm nhóm: chỉ số, vật liệu, thi công, PPF và kính nhà. Trong mỗi nhóm, mục được xếp theo vần A đến Z. Muốn hiểu sâu cách so sánh các chỉ số thì đọc thêm bài tổng về thông số.

Đọc phiếu phim, chủ xe hay vấp ở chỗ này: hai chữ viết tắt trông na ná nhau nhưng đo hai thứ khác hẳn. Phiếu của một hãng quốc tế ghi cùng một phim IRR 90% ± 3 và IRER 66%, lệch 24 điểm chỉ vì khác dải đo và cách tính.

Nhận định của bài này, là suy luận từ các phiếu đã đọc: gần như mọi con số trên phiếu phim chỉ có nghĩa khi trả lời được ba câu. Đo ở dải sóng nào, đo trên kính nào, và ai đo. Thuật ngữ nào không trả lời được ba câu đó thì coi như lời giới thiệu, chưa phải dữ kiện.

Thuật ngữ phim cách nhiệt về chỉ số và cách đo

Nhóm này là chỗ dễ bị dẫn dắt nhất, vì con số to chưa chắc là con số quan trọng.

Thuật ngữ Nghĩa
ASTM E903, E308 Hai tiêu chuẩn hay được dẫn trên phiếu: E903 đo truyền qua và phản xạ, E308 tính kết quả theo nguồn sáng chuẩn.
Dung sai (±) Khoảng lệch hãng chấp nhận quanh số công bố. Ví dụ IRR 90% ± 3.
g-value Cách gọi ở châu Âu, gần tương đương SHGC.
IRER Phần năng lượng hồng ngoại bị cản trên dải 780 đến 2.500 nm, tính theo SHGC.
IRR Tỉ lệ cản hồng ngoại trên một dải do hãng chọn, thường rất hẹp. Một hãng ghi dải 900 đến 1.000 nm.
Kính thử 6 mm Loại kính trong dùng để tính thông số trên nhiều phiếu. Kính xe có màu sẽ cho kết quả khác.
LSG Tỉ số VT chia SHGC. Số cao hơn nghĩa là vào nhiều sáng hơn so với nhiệt.
NFRC Tổ chức Mỹ xếp hạng hiệu năng cửa và kính. Phim được chứng nhận có thể tra trong danh mục của họ.
Phần mềm Window Công cụ của phòng thí nghiệm LBNL (Mỹ), dùng để tính thông số hệ kính theo NFRC.
SC Hệ số che nắng, chỉ số cũ. Quy đổi xấp xỉ SHGC ≈ SC × 0,87.
SHGC Hệ số thu nhiệt mặt trời, từ 0 đến 1. Số thấp nghĩa là ít nhiệt mặt trời vào hơn.
SIRR Một cách tính cản hồng ngoại: 100% trừ phần truyền qua ở dải 780 đến 2.500 nm. Phần phim hấp thụ rồi toả vào trong vẫn được tính là đã cản.
TSER Tổng năng lượng mặt trời bị cản, bằng (1 − SHGC) × 100%. Chỉ so được khi hai phim cùng VLT.
U-factor Mức truyền nhiệt không do nắng, tức nhiệt đi qua kính vì chênh lệch nhiệt độ. Số thấp cách nhiệt tốt hơn.
UVR Tỉ lệ cản tia cực tím. Tia UV chỉ chiếm khoảng 3 đến 5% năng lượng nắng ở mặt đất, nên số này không nói về độ mát.
VLR Tỉ lệ ánh sáng nhìn thấy bị phản xạ, có VLR ngoài và VLR trong. Số cao thì kính giống gương hơn.
VLT Độ xuyên sáng, phần ánh sáng nhìn thấy (380 đến 780 nm) đi qua. Số cao là phim sáng.
VT Tương đương VLT trên nhãn cửa, tính theo độ nhạy của mắt.

Khi chọn VLT cho từng vị trí kính xe, xem bài độ xuyên sáng. Bảng trên chỉ giải nghĩa, không phải gợi ý mức cần chọn.

Vật liệu và cấu tạo phim

Tên vật liệu trên báo giá là tên thương mại nhiều hơn là tên khoa học, nhất là chữ ceramic. Hỏi cụ thể phim có lớp gì sẽ đỡ hơn tin vào tên gọi.

Thuật ngữ Nghĩa
Keo dán Lớp keo gắn phim vào kính. Chất lượng keo ảnh hưởng tới độ trong và độ bền lâu dài.
Lớp chống xước Lớp cứng ở mặt phim hướng vào phòng hoặc cabin, giúp bớt xước khi lau.
Lớp lót Màng bảo vệ lớp keo, được bóc đi lúc dán.
PET Nhựa polyester, nền của đa số phim dán kính, kể cả phim an toàn.
Phim carbon Phim dùng hạt carbon, hấp thụ hồng ngoại nhiều hơn phản xạ, không có kim loại.
Phim ceramic Phim có lớp gốm, thường là nitride hoặc oxide. Chữ này dễ bị dùng sai trên hàng giá rẻ.
Phim kim loại Phim có lớp kim loại phản xạ nhiệt. Rủi ro chính là ảnh hưởng tín hiệu thiết bị.
Phim nhuộm Phim tạo màu bằng thuốc nhuộm, dựa vào hấp thụ, cản nhiệt thấp, dễ chuyển tím trừ loại ổn định màu.
Phim phản quang Phim có lớp phản xạ mạnh, mặt ngoài trông như gương khi trời sáng.
Phim phún xạ Phim phủ lớp cực mỏng bằng phún xạ trong chân không. Lớp phủ có thể là kim loại hoặc gốm, nên cần hỏi rõ.

Đây là mô tả chung từ tài liệu ngành, phần lớn của hãng và tiệm dán. Chất lượng từng sản phẩm khác nhau.

Thi công và xử lý sau dán

Nhóm này ít xuất hiện trên phiếu nhưng hay xuất hiện trong lúc cãi nhau với tiệm.

Thuật ngữ Nghĩa
Bóc phim Gỡ phim cũ và làm sạch keo trên kính. Đây là khoản công dễ bị quên khi tính chi phí.
Bong bóng nước Túi nước nhỏ còn lại giữa phim và kính, thường mất dần khi phim khô. Khác với bọt do bụi hoặc do keo hỏng.
Cắt máy Cắt phim theo dữ liệu mẫu kính bằng máy, hạn chế dao chạm vào kính xe.
Cắt tay Thợ cắt trực tiếp trên kính. Đẹp hay không phụ thuộc tay nghề và độ cẩn thận của dao.
Chấm đen viền kính Dải chấm in ở mép kính xe. Phim bám ở vùng này kém phẳng, nên mép dễ thấy vệt trắng.
Co nhiệt Dùng máy thổi nóng để phim ôm theo kính cong trước khi dán.
Dao gạt Dụng cụ đẩy nước và bọt khí ra khỏi phim.
Dung dịch thi công Nước pha chất trượt, giúp thợ chỉnh vị trí phim trước khi gạt.
Mẫu thử Miếng phim dán thử trên một ô kính để xem màu, độ phản chiếu và kết quả thực tế trước khi làm cả nhà.

PPF và phim bảo vệ sơn

PPF là một họ sản phẩm riêng, không cản nắng như phim kính. Xem cấu hình thực tế ở trang phim bảo vệ sơn.

Thuật ngữ Nghĩa
Lớp phủ ceramic Chất phủ bảo vệ sơn, mỏng hơn hẳn PPF, không phải phim. Đừng nhầm với phim ceramic dán kính.
Mil Đơn vị độ dày phim, 1 mil = 25,4 µm.
Ố vàng Màng phim ngả màu theo thời gian. Một nguyên nhân đã rõ về vật liệu là gốc polyurethane thơm dễ sẫm màu dưới ánh sáng.
PPF Phim bảo vệ sơn, màng trong nhiều lớp dán lên bề mặt sơn.
PVC Nhựa cứng hơn TPU. Tài liệu hãng ghi dễ vàng và nứt hơn.
Quấn mép Gấp mép phim vào trong khe của tấm vỏ để giấu đường cắt.
Top-coat Lớp phủ trên cùng của PPF, thường mang tính tự phục hồi.
TPH Vật liệu rẻ hơn TPU. Các nguồn mâu thuẫn về việc nó có tự phục hồi không.
TPU Polyurethane nhiệt dẻo, thân chính của PPF hiện nay, linh hoạt và đàn hồi.
TPU béo, TPU thơm Hai nhánh theo gốc isocyanate. Gốc thơm dễ sẫm màu hơn, gốc béo được dùng khi cần giữ màu.
Tự phục hồi Vết xước nhẹ ở top-coat mờ đi khi gặp nhiệt. Vết rách sâu tới lớp TPU thì không.
µm Micromet, một phần nghìn milimet. Nhiều phiếu kỹ thuật ghi độ dày từng lớp bằng đơn vị này.

Phần so sánh vật liệu trong bảng này đến từ tài liệu bán hàng, chưa có thử nghiệm độc lập.

Kính nhà và phim kiến trúc

Với kính nhà, tên loại kính quan trọng không kém tên phim. Lý do nằm ở rủi ro nứt do nhiệt, trình bày trong bài phim cho nhà hướng Tây.

Thuật ngữ Nghĩa
Decal kính Hình hoặc chữ cắt, in để dán trang trí và làm thương hiệu, không nhằm cản nắng.
Gioăng kính hộp Lớp bịt kín mép kính hộp. Nhiệt từ phim có thể gây ứng suất lên lớp này.
Kính dán an toàn Hai tấm kính kẹp lớp nhựa giữa, khi vỡ mảnh còn bám lại.
Kính gia nhiệt Kính được xử lý nhiệt, cứng hơn kính ủ, kém kính tôi. Còn gọi là bán cường lực.
Kính hộp Hai tấm kính cách nhau bằng lớp khí hoặc khí trơ, giảm truyền nhiệt.
Kính tôi Kính cường lực. Theo EWFA chịu chênh lệch nhiệt khoảng 250°C.
Kính ủ Kính float thông thường, nhạy với ứng suất nhiệt, cần đánh giá trước khi dán phim.
Low-E Lớp phủ phát xạ thấp trên kính. Pilkington khuyến cáo không dán phim lên bề mặt này.
Mặt số 4 Cách đánh số mặt kính: với kính hộp hai lớp, đây là mặt trong cùng, hướng vào phòng.
Neo khung Cố định mép phim an toàn vào khung để tấm kính vỡ vẫn nằm lại trong khung.
Phim an toàn Phim PET dày, giữ mảnh vỡ. Độ dày khoảng 100 đến hơn 525 µm, không biến kính thành kính không vỡ.
Phim mờ Phim làm kính đục mờ, che nhìn cả ngày lẫn đêm và cũng che luôn tầm nhìn ra.
Phim một chiều Tên gọi đời thường của phim phản quang. Hiệu ứng phụ thuộc phía nào sáng hơn, nên đảo chiều vào ban đêm.
Phim tĩnh điện Phim bám vào kính bằng tĩnh điện, không keo, dễ gỡ, nhưng kém bền ở nơi ẩm.
Ứng suất nhiệt Lực kéo sinh ra khi một tấm kính nóng không đều, nguyên nhân chính của nứt kính sau dán phim.

Một thuật ngữ gây hiểu nhầm nhiều nhất lại nằm ngay trong tên sản phẩm. Trang của Efficient Windows Collaborative về phim dán kính ghi rõ phim cản nhiệt mặt trời bằng phản xạ và hấp thụ, nhưng không cách nhiệt đáng kể. "Phim cách nhiệt" là tên quen gọi. Trên giấy tờ kỹ thuật, chữ chính xác hơn là phim kiểm soát nắng. Chữ "tối" cũng dễ gây nhầm tương tự. Tài liệu của Pilkington ghi hơn nửa năng lượng mặt trời nằm ngoài vùng mắt nhìn thấy, và phim trông trong vẫn có thể hấp thụ nhiều. Nhìn màu phim chưa biết được nó chặn bao nhiêu nhiệt.

Bước tiếp theo

Gặp một dòng trên phiếu mà trang này chưa giải thích được, hãy chụp lại rồi gửi cho đội ngũ VEGO qua trang liên hệ. Kèm theo tên phim và vị trí định dán để câu trả lời sát việc của bạn.